1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, nhằm hướng đến đạt được mục tiêu phát triển bền vững ngành du lịch Việt Nam. Đối với những khu vực kinh doanh du lịch dựa vào khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên như Vịnh Nha Trang tại tỉnh Khánh Hòa, vấn đề trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch đối với điểm khai thác tài nguyên càng trở nên cấp thiết. Hoạt động kinh doanh du lịch tại Vịnh Nha Trang đã tạo dựng nhiều công trình làm đa dạng diện mạo cảnh quan và tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân; tuy nhiên, hệ lụy để lại cho môi trường và xã hội cũng đã đến hồi báo động: xả thải từ hoạt động du lịch, ô nhiễm môi trường biển, suy giảm rạn san hô tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Mun, an ninh trật tự xã hội,… Điều này đặt ra nhiệm vụ cho cơ quan nhà nước về việc quản lý chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp du lịch tại Vịnh Nha Trang. Nghiên cứu của nhóm tác giả nhằm đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp du lịch đối với môi trường và cộng đồng dân cư địa phương, đồng thời đưa ra một số kiến nghị với mong muốn phát triển du lịch bền vững, du lịch xanh tại Vịnh Nha Trang nói riêng và du lịch tỉnh Khánh Hòa nói chung.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập thông tin; phương pháp điều tra thực địa; phương pháp xây dựng bảng câu hỏi; phương pháp thống kê mô tả để xử lý dữ liệu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra được thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường và cộng đồng địa phương tại khu vực Vịnh Nha Trang. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững.

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp (DN) du lịch xoay quanh hai vấn đề mấu chốt của CSR (Coporate Social Responsibility) là trách nhiệm với môi trường và trách nhiệm với cộng đồng địa phương tại khu vực Vịnh Nha Trang. Để khách quan, nhóm tác giả đã gửi bảng câu hỏi khảo sát đến tay 25 doanh nghiệp lữ hành và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lưu trú - ăn uống có các tour biển đến Vịnh Nha Trang. Đồng thời, khảo sát 160 người dân sinh sống tại địa bàn Vịnh Nha Trang về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng tại địa phương – cụ thể là khu vực Vịnh Nha Trang.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội và du lịch bền vững trong kinh doanh du lịch

#### 3.1.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (hay còn gọi là Coporate Social Responsibility – CSR) được xuất hiện bắt đầu từ những năm 1950 với tác giả nổi tiếng Howard Rothmann Bowen (Yam, 2013, tr.77) và ngày càng được quan tâm trong xã hội. Bowen đã định nghĩa: “CSR là nghĩa vụ của nhà làm kinh doanh trong việc đề xuất và thực thi các chính sách không làm tổn hại đến quyền và lợi ích người khác”. Ủy ban Kinh tế Thế giới về Phát triển bền vững đưa ra khái niệm: “Trách nhiệm xã hội là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử một cách có đạo đức và góp phần cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình của họ, cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung”. Quan điểm này cho thấy rằng, với tư cách là chủ thể kinh tế trong xã hội, doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên,… Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp cần phải có trách nhiệm đối với môi trường, cộng đồng và người lao động. Ủy ban châu Âu định nghĩa: “CSR là một khái niệm bao gồm ba khía cạnh: cân nhắc về kinh tế, xã hội và môi trường”. Như vậy, những định nghĩa về CSR trên thế giới tùy theo góc độ tiếp cận nên có các quan điểm khác nhau, nhưng chung quy lại, CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của của người lao động, cộng đồng theo cách có lợi cho doanh nghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội.

Trong ngành du lịch, CSR với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm. Những khái niệm về CSR phù hợp với những nguyên tắc phát triển bền vững và cả hai đôi khi sử dụng thay thế cho nhau (Chow và Chen, 2012). Khái niệm phát triển du lịch bền vững ở cấp độ vĩ mô đòi hỏi sự kết hợp giữa ba yếu tố: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường (Drexhage và Murphhy, 2010). Như vậy, hoạt động CSR trong du lịch cũng gắn liền với việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, bảo vệ môi trường và tăng cường hỗ trợ cộng đồng cư dân địa phương để phát triển bền vững. Nói cách khác, một doanh nghiệp du lịch thực hiện CSR nên: (1) tạo ra hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp - khách hàng - cộng đồng, tạo thu nhập và phát triển lao động; (2) tôn trọng và phát triển văn hóa, xã hội địa phương; (3) thân thiện môi trường. Như vậy, có thể thấy, các tài liệu về CSR đã được bổ sung nhiều nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn, song, tựu chung lại cho thấy, CSR đều hàm ý như một công cụ hướng tới sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như các bên liên quan như môi trường và cộng đồng.

#### 3.1.2. Nội dung trách nhiệm xã hội

CSR bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các bên liên quan trong các quá trình hoạt động và kinh doanh. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững cần phải luôn tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, bình đẳng về giới, an toàn lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng (Trần Thị Trà My, 2020). Nhìn nhận một cách tổng quát, CSR bao gồm năm vấn đề chính sau:

Trách nhiệm của doanh nghiệp trong quản lý nội bộ: CSR được thể hiện qua các tiêu chí hoạt động quản trị doanh nghiệp như: quản trị tài chính, văn hóa doanh nghiệp, các chính sách đối với người lao động, cơ hội phát triển của người lao động.

Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với đối tác: Để quản lý được chất lượng sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải lựa chọn các doanh nghiệp đối tác có uy tín, có chất lượng sản phẩm tốt. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần duy trì mối quan hệ với các nhà cung cấp, đảm bảo quyền lợi hai bên và thường xuyên kiểm tra chất lượng định kỳ để điều chỉnh trong trường hợp cần thiết hoặc nếu trong trường hợp khách hàng không hài lòng về dịch vụ của nhà cung cấp.

Trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường: Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch có ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên khi khai thác sử dụng tài nguyên du lịch. Các hành động cụ thể của doanh nghiệp du lịch được thể hiện ở khía cạnh bảo vệ môi trường một cách thiết thực như: nâng cao ý thức cho du khách về bảo vệ môi trường trong quá trình tham gia du lịch, không tổ chức các hoạt động tham quan gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, tổ chức các hoạt động xanh (gom rác tại các bãi biển, trồng cây),…

Trách nhiệm của doanh nghiệp với khách hàng: Doanh nghiệp du lịch có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm du lịch. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có những chính sách chăm sóc khách hàng đảm bảo tối đa sự hài lòng của khách hàng.

Trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng: Doanh nghiệp có trách nhiệm tham gia, ủng hộ các hoạt động vì cộng đồng, hoạt động từ thiện xã hội, tôn trọng văn hóa địa phương, tích cực sử dụng và đào tạo nguồn lao động tại địa phương, hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương trong hoạt động kinh doanh du lịch và chia lợi nhuận công bằng.

#### 3.1.3. Ý nghĩa việc thực hiện trách nhiệm xã hội

CSR làm cho doanh nghiệp nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín trên thị trường. Ngày nay, khách hàng không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức mà doanh nghiệp làm ra sản phẩm. Những doanh nghiệp có CSR, tạo ra những sản phẩm thân thiện với môi trường sinh thái, có tính nhân đạo,… không những cải tiến hình ảnh doanh nghiệp trong người tiêu dùng, cư dân địa phương, mà còn giúp doanh nghiệp tăng doanh số hay thực hiện các dự án đầu tư khác một cách thuận lợi hơn.

CSR nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý của doanh nghiệp. Thực hiện CSR sẽ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng doanh thu, bởi khi doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR thì họ sẽ cắt giảm tối đa việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí đóng gói cũng như tái sử dụng nguyên liệu, từ đó, doanh nghiệp có thể giảm chi phí sản xuất. Khi khách hàng tin tưởng vào doanh nghiệp thực hiện tốt CSR thì họ sẽ chấp nhận mua giá cao, do đó, doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợi ích (Sprinkle và Maines, 2010).

Doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR với những đóng góp cho cộng đồng bằng các hoạt động thiện nguyện, sử dụng nguồn lao động địa phương, bảo vệ môi trường sẽ thu hút và gia tăng lòng trung thành của khách hàng, vì khách hàng thấy rằng, họ có những đóng góp gián tiếp cho xã hội.

3.2. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp du lịch tại khu vực vịnh Nha Trang

Vịnh Nha Trang nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, được coi là một trong những khu vực đẹp trên thế giới với sự kết hợp của bãi biển, thành phố và những hòn đảo lớn nhỏ tạo nên cảnh quan vừa kỳ vĩ, vừa thơ mộng. Bên cạnh đó, Vịnh là nơi có sự sống đa dạng dưới nước với quần thể san hô và nhiều loại sinh vật biển phong phú. Vịnh có diện tích khoảng 507 km2, bao gồm 19 đảo lớn nhỏ, trong đó, Hòn Tre là đảo lớn nhất với diện tích 32,5 km2, ngoài ra, Vịnh Nha Trang còn ghi dấu ấn đẹp vào lòng du khách với những hòn đảo xinh đẹp như: Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun; đảo yến thiên nhiên tốt bậc nhất Việt Nam (Hòn Nội, Hòn Ngoại); những làng chài thơ mộng; ẩm thực biển hấp dẫn,... Chính vì vậy, Vịnh Nha Trang được ví như “Hòn ngọc của miền Viễn Đông”. Vịnh còn sở hữu danh hiệu danh thắng cấp quốc gia và được kết nạp làm thành viên của Hiệp hội Câu lạc bộ những Vịnh đẹp nhất thế giới (Club of the Most Beautiful Bays of the World), đồng thời cũng chính là địa điểm làm nên thương hiệu du lịch Nha Trang - Khánh Hòa thu hút đông đảo du khách trong nước cũng như quốc tế.

Tuy nhiên, trong xu thế đi du lịch hiện nay giữa xã hội ngày càng tiên tiến, văn minh thì nhận thức và ý thức của con người về trách nhiệm cộng đồng tăng mạnh. Chính vì vậy, du khách cũng đòi hỏi cao hơn ở doanh nghiệp về sự đóng góp cho xã hội và cộng đồng, quan tâm đến môi trường sinh thái, coi trọng du lịch xanh nhiều hơn. Tại khu vực Vịnh Nha Trang còn có một thực tế đáng báo động là sự thay đổi tiêu cực của tài nguyên du lịch do một phần tác động từ hoạt động kinh doanh du lịch. Từ thực tế nêu trên, ở Khánh Hòa, hiện nay đã và đang có nhiều doanh nghiệp quan tâm hơn cũng như ý thức được tầm quan trọng của CSR, xem đó là một phần không thể thiếu trong định hướng phát triển của doanh nghiệp để hướng tới mục tiêu kinh doanh sản phẩm du lịch biển đảo bền vững tại Vịnh Nha Trang.

#### 3.2.1. Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường

Trong thực tế, khi phát triển mạnh về tour du lịch biển đảo, nhà hàng/khách sạn trên Vịnh Nha Trang sẽ gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường tại điểm đến. Để góp phần phát triển du lịch bền vững, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại Vịnh Nha Trang rất quan tâm và nhận thức rõ tầm quan trọng của chính sách, hành động của mình trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với môi trường tại điểm đến. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, đồng thời mang lại lợi ích xã hội cũng như nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.

Nhóm tác giả tiến hành khảo sát về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường thông qua 25 doanh nghiệp có kinh doanh du lịch tại Vịnh Nha Trang, kết quả điều tra như sau:

Hình 1. Biểu đồ về các loại hình doanh nghiệp

Hình 2. Biểu đồ về quy mô doanh nghiệp

Trong 25 doanh nghiệp được khảo sát, có một đơn vị là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, chiếm 4% trên tổng số; Công ty cổ phần có 6 đơn vị, chiếm 6% trên tổng số; và còn lại 18 đơn vị là công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ, chiếm 72% trên tổng số 25 doanh nghiệp. Đồng thời, theo Hình 2, ta thấy, doanh nghiệp có quy mô lớn có 6 doanh nghiệp, chiếm 24%; doanh nghiệp có quy mô vừa là 10 doanh nghiệp, chiếm 40%; và quy mô nhỏ là 10 doanh nghiệp, chiếm 36% trên tổng số. Nhìn chung, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tại Vịnh Nha Trang phần nhiều là loại hình công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ, có quy mô chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Bảng 1. Kết quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường

Yếu tốChỉ số trung bìnhĐộ lệch chuẩn
TN1 - Hạn chế sử dụng các vật liệu, sản phẩm nhựa phục vụ khách hàng3,161,143
TN2 - Lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trường trong các chương trình du lịch tại Vịnh Nha Trang3,441,356
TN3 - Cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường biển cho khách hàng và nhân viên tại doanh nghiệp3,161,463
TN4 - Doanh nghiệp chủ động tham gia các chương trình trách nhiệm xã hội (TNXH) tại địa phương3,721,208
TN5 - Cập nhật các văn bản quy định về bảo vệ môi trường biển cho đội ngũ người lao động3,840,943
TN6 - Tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường du lịch biển đảo và cộng đồng4,041,274
TN7 - Doanh nghiệp có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn lực tại địa phương4,201,080

Nguồn: Kết quả phân tích thống kê của nhóm tác giả

Từ kết quả Bảng 1, ta thấy, với thang đo Likert 5 mức độ, chúng ta có biến TN4, TN5, TN6 và TN7 có Mean > 3,5. Như vậy, dữ liệu cho thấy rằng, mức độ đồng ý của đối tượng khảo sát là ở mức đồng ý với quan điểm của các biến TN4, TN5, TN6 và TN7. Cụ thể, ta thấy, biến được đánh giá chỉ số trung bình cao nhất 4,2 là TN7 – doanh nghiệp có chính sách ưu tiên sử dụng nguồn lực tại địa phương; điều này cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh tại Vịnh đều rất quan tâm và chú ý đến vấn đề sử dụng nguồn lực tại chỗ, ưu tiên cho nguồn lực địa phương. Tiếp đó là biến TN6 – tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường du lịch biển đảo và cộng đồng, có chỉ số trung bình là 4,04; biến TN5 – cập nhật các văn bản quy định về bảo vệ môi trường biển cho đội ngũ người lao động đạt chỉ số trung bình là 3,84 và TN4 – doanh nghiệp chủ động tham gia các chương trình trách nhiệm xã hội tại địa phương đạt chỉ số trung bình Mean = 3,72. Rõ ràng, ta nhận thấy, các doanh nghiệp đã và đang rất chú trọng quan tâm đến vấn đề về cộng đồng, ngoài chú trọng phát triển nguồn lực địa phương, các doanh nghiệp cũng có chính sách tuân thủ các chính sách về bảo tồn biển, phổ biến, phổ cập cho nhân viên của doanh nghiệp về các quy định về bảo vệ biển đảo; đồng thời chủ động trong các hoạt động tham gia các chương trình liên quan đến trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng và môi trường tại điểm đến. Ba biến: TN1 – hạn chế sử dụng các vật liệu, sản phẩm nhựa phục vụ khách hàng; TN2 – lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trường trong các chương trình du lịch tại Vịnh Nha Trang và TN3 – cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường biển cho khách hàng và nhân viên tại doanh nghiệp đạt mức ý nghĩa Mean = 3,16 và Mean = 3,44 cho thấy doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm nhiều và chú trọng vào ba yếu tố này.

Độ lệch chuẩn của các biến khá nhỏ, chỉ dao động ở mức từ 1,0 đến 1,3. Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp được khảo sát có nhận định không khác biệt nhau nhiều về các biến trong Bảng 1, tính biến động không đáng kể. Đây thực sự là tín hiệu rất đáng mừng đối với các doanh nghiệp đang kinh doanh dịch vụ du lịch tại Vịnh Nha Trang, cùng chung nhận thức và cùng chung tay hành động vì một du lịch biển đảo xanh, cùng xây dựng trách nhiệm xã hội đối với môi trường tại điểm đến.

#### 3.2.2. Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng dân cư (khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Nguyên)

Đối với khảo sát cộng đồng dân cư, nhóm tác giả tiến hành khảo sát 160 đối tượng dân cư sinh sống tại khu vực phường Vĩnh Nguyên và Vĩnh Trường. Theo đó, thống kê theo giới tính có 100 nam chiếm 62,5% và nữ 60 người chiếm 37,5% trong tổng nhân tố khảo sát.

Bảng 2. Thống kê mẫu nghiên cứu

NHÓM NHÂN SINHTần sốTỷ lệ (%)
GIỚI TÍNHNam10062,5
Nữ6037,5
Tổng160100
ĐỘ TUỔITừ 18-302113,1
Từ 31-404226,3
Từ 41 đến 507949,4
Từ 51 trở lên1811,3
Tổng160100
TRÌNH ĐỘ HỌC VẤNCao đẳng6440,0
Đại học4528,1
Sau đại học21,3
Khác4930,6
Tổng160100
THỜI GIAN SINH SỐNGTừ 0-5 năm2515,6
Từ 6-15 năm4930,6
Từ 16-25 năm7245,0
Trên 25 năm148,8
Tổng160100

Cũng theo Bảng 2, ta thấy, trong 160 đối tượng khảo sát, có tới 79 người, chiếm 49,4% ở độ tuổi từ 41 đến 50 tuổi. Tiếp đến là độ tuổi từ 31 đến 40 tuổi chiếm 26,3%, từ 18 đến 30 tuổi chiếm 13,1% và trên 51 tuổi chiếm 11,3%. Điều này là hoàn toàn hợp lý, vì thời gian sinh sống của người dân ở khu vực này từ 16 đến 25 năm là chiếm đa số, có tới 72 người trên tổng số mẫu nghiên cứu, chiếm 45%; từ 6 đến 15 năm có 49 người trên tổng mẫu nghiên cứu, chiếm 30%; và dưới 5 năm hay trên 25 năm thì số lượng khá ít, chỉ chiếm 15,6% và 8,8% trên tổng mẫu nghiên cứu. Về trình độ học vấn, cao đẳng là chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm 40% trên tổng mẫu; tiếp đó là trình độ khác, chiếm 30,6%; trình độ đại học là 28,1% và sau đại học là 1,3%. Điều này cho thấy, trình độ dân trí tại địa phương còn chưa cao, có thể là do một phần đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 31 đến 50 chiếm đa số trong tổng mẫu nghiên cứu.

Bảng 3. Kết quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng dân cư tại địa phương (khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Nguyên)

Yếu tốChỉ số trung bìnhĐộ lệch chuẩn
CD1 – Doanh nghiệp luôn sẵn sàng hưởng ứng và tham gia các dự án, hoạt động hướng tới cộng đồng được tổ chức tại địa phương3,561,120
CD2 – Doanh nghiệp ưu tiên sử dụng lao động địa phương3,681,271
CD3 – Doanh nghiệp có chương trình du lịch với mức giá ưu đãi cho người dân địa phương3,351,424
CD4 – Doanh nghiệp chủ động tổ chức các hoạt động hướng tới cộng đồng tại địa phương3,441,253
CD5 – Doanh nghiệp luôn tuân thủ các quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh tại địa phương3,741,079

Nguồn: Kết quả phân tích thống kê của nhóm tác giả

Kết quả từ Bảng 3 – kết quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với môi trường cho thấy, biến CD5 – doanh nghiệp luôn tuân thủ các quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh tại địa phương có mức ý nghĩa trung bình Mean ở mức 3,74; biến CD2 – doanh nghiệp ưu tiên sử dụng lao động địa phương đạt mức trung bình Mean là 3,68; và 3,56 cho biến CD1 – doanh nghiệp luôn sẵn sàng hưởng ứng và tham gia các dự án và hoạt động hướng tới cộng đồng được tổ chức tại địa phương. Kết quả cho chúng ta thấy, hầu hết các doanh nghiệp đều chung tay vì cộng đồng địa phương, cụ thể, doanh nghiệp chú trọng và quan tâm nhất việc tuân thủ các hoạt động kinh doanh cũng như ưu tiên sử dụng lao động tại địa phương. Thêm vào đó, các doanh nghiệp luôn sẵn sàng tham gia các hoạt động vì cộng đồng tại địa phương. Các biến còn lại có chỉ số trung bình Mean là 3,44 (CD4 – doanh nghiệp chủ động tổ chức các hoạt động hướng tới cộng đồng tại địa phương) và 3,35 (CD3 – doanh nghiệp có chương trình du lịch với mức giá ưu đãi cho người dân địa phương). Đối với hai biến này, các doanh nghiệp chỉ đạt ở mức trung lập “không ý kiến”, điều này cho thấy, doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm và chủ động tổ chức các hoạt động vì cộng đồng, cũng như chưa có chính sách giá hợp lý ưu đãi cho người dân tại điểm đến.

Như vậy, qua kết quả điều tra thực trạng trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp cho thấy, họ đã nhận thức cơ bản đầy đủ và đúng đắn về TNXH của mình đối với môi trường cũng như cộng đồng dân cư tại Vịnh Nha Trang. Một số các hoạt động mà các doanh nghiệp đã và đang thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình đối với điểm đến, chủ động và tích cực tham gia các dự án, chương trình TNXH tại địa phương, tuân thủ cũng như luôn cập nhật thông tin quy định về môi trường, về biển đảo; đặc biệt là ưu tiên sử dụng lao động tại địa phương nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, trách nhiệm và trình độ dân trí cho dân cư tại điểm đến.

Trong bối cảnh nền kinh tế sau đại dịch COVID-19 như hiện nay, du lịch đang trở mình và đang chuẩn bị cho sự hồi sinh của mình trong giai đoạn mới. Có thể nói, mỗi doanh nghiệp đã và đang nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về TNXH của mình nhằm phát triển du lịch bền vững. Việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở trách nhiệm, ở nghĩa vụ, mà ở đây, các doanh nghiệp tự ý thức, thực hiện hoàn toàn tự nguyện và tự giác TNXH của mình đối với xã hội, cộng đồng và môi trường. Đó thực sự là điều đáng mừng để không chỉ ngành du lịch nói riêng mà còn của nền kinh tế nói chung trong cả nước phát triển mạnh mẽ, tiến tới nền “kinh tế xanh”, phát triển toàn diện và vững mạnh.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các doanh nghiệp đều sẽ có những khó khăn nhất định, những rào cản và thách thức riêng, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần nỗ lực rất nhiều để nhìn nhận và đánh giá lại, nhằm phát huy tốt nhất các khía cạnh về TNXH mà doanh nghiệp đã đạt được để đưa ra hướng khắc phục và nâng cao hiệu quả một số mặt mình còn hạn chế.

4. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Xuất phát từ những thay đổi trong xu hướng đi du lịch hiện nay của du khách là quan tâm nhiều đến vấn đề môi trường xanh, an toàn và cải thiện sức khỏe, đồng thời mong muốn tham gia vào hoạt động đóng góp cho cộng đồng địa phương; kết hợp với kết quả nghiên cứu về thực trạng CSR của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh sản phẩm ở Vịnh Nha Trang, và chính sách phát triển du lịch hiện nay ở Khánh Hòa; nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp sau:

4.1. Về phía cơ quan quản lý du lịch tại tỉnh Khánh Hòa

Vịnh Nha Trang là điểm đến tạo nên thương hiệu du lịch Nha Trang - Khánh Hòa, tour biển đảo luôn được khách du lịch ưu tiên lựa chọn khi đến Khánh Hòa; do đó, chúng ta cần có sự quản lý chặt chẽ hơn về vấn đề sản phẩm du lịch, sức chứa điểm đến, khai thác tài nguyên và có những điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực gây cản trở cho mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Trong thời gian tới, cơ quan quản lý du lịch Khánh Hòa có thể xem xét một số giải pháp cụ thể như sau:

- UBND tỉnh Khánh Hòa xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường biển tại Vịnh Nha Trang. Tiếp tục triển khai công tác nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư sống ven biển, trên đảo, cũng như tăng cường các hoạt động cải thiện sinh kế. Có chính sách ưu đãi trong kinh doanh cho những doanh nghiệp du lịch cam kết thực hiện CSR tại Vịnh Nha Trang.

- Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa đề xuất xây dựng bộ quy tắc bảo vệ san hô, đảm bảo thực hiện Luật Thủy sản năm 2017 trên cơ sở áp dụng nguyên tắc đồng quản lý tài nguyên giữa cơ quan chuyên trách, đơn vị kinh doanh du lịch, cộng đồng cư dân địa phương và xác định rõ trách nhiệm của khách du lịch. Giải pháp then chốt để vừa khai thác vừa bảo tồn tài nguyên là, trong mỗi chương trình du lịch, ta cần lồng ghép những chỉ dẫn bằng văn bản và thông tin tuyên truyền từ hướng dẫn viên nhằm nâng cao nhận thức để yêu cầu du khách có những cam kết về mức độ tuân thủ bộ quy tắc cũng như có hình phạt đối với du khách khi vi phạm.

- Ban Quản lý Vịnh Nha Trang phối hợp chặt chẽ với lực lượng biên phòng, cảnh sát biển và các bên liên quan thực thi những quy định trong quá trình kiểm soát Vịnh (đăng kiểm phương tiện vận tải, phạm vi hoạt động, an toàn vệ sinh, giao thông,...). Kiểm soát vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường ngay từ khi tour của doanh nghiệp du lịch rời cảng du lịch, đề xuất hình thức phạt tài chính hoặc cấm tour đối với doanh nghiệp vi phạm quy tắc bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò của mạng lưới bảo vệ môi trường Vịnh Nha Trang phối hợp với cộng đồng địa phương.

4.2. Về phía doanh nghiệp du lịch

Để tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp du lịch đối với môi trường tại Vịnh Nha Trang, ta cần tập trung vào các giải pháp:

- Doanh nghiệp nên cung cấp các tour tìm hiểu môi trường và bảo vệ môi trường Vịnh Nha Trang (chương trình “Vì màu xanh biển đảo”, trồng cây, cấy san hô, dọn rác quanh Vịnh, vớt rác trong Vịnh,…) với mức giá ưu đãi cho người dân Khánh Hòa vào cuối tuần hoặc dịp lễ, phát triển du lịch tại điểm đến;

- Doanh nghiệp tìm vật liệu thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa, chai nhựa, túi nilon trong quá trình cung cấp dịch vụ du lịch;

- Các doanh nghiệp cùng nhau tổ chức sự kiện với chủ đề “Vịnh Nha Trang – đẹp, xanh, an toàn” vào Ngày Môi trường Thế giới (5/6), Ngày Đại dương Thế giới (8/6), Tuần lễ Rùa biển quốc tế (8-16/6), Ngày Du lịch Việt Nam (9/7) và Ngày Du lịch Thế giới (27/9) hàng năm;

- Doanh nghiệp chủ động hưởng ứng các hoạt động vì cộng đồng do địa phương và ngành du lịch phát động;

- Doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn nhân lực du lịch địa phương, tuy nhiên cần có những phân cấp rõ ràng với nhân lực đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo về du lịch. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tổ chức bồi dưỡng để người lao động có cách phục vụ phù hợp với du khách, đồng thời có nhận thức và hành vi đúng đắn với việc giữ gìn môi trường Vịnh Nha Trang.

4.3. Về phía cộng đồng cư dân địa phương

- Cộng đồng cư dân địa phương chủ động tìm hiểu và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống và môi trường biển đảo;

- Thành lập quỹ bảo vệ môi trường Vịnh Nha Trang; hưởng ứng các chương trình du lịch có hoạt động làm sạch môi trường biển đảo do các doanh nghiệp du lịch cung cấp.

5. KẾT LUẬN

Ngày nay, phát triển du lịch bền vững không chỉ là mục tiêu mà đã trở thành nhiệm vụ bắt buộc đối với mỗi cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch. Phát triển du lịch bền vững là giải pháp tốt nhất giúp các nhà kinh doanh sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên quý giá không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo cho tương lai, nghĩa là, đảm bảo lợi ích kinh tế lâu dài và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường, cộng đồng địa phương. Vịnh Nha Trang là điểm tài nguyên được hầu hết doanh nghiệp du lịch lựa chọn để xây dựng sản phẩm, làm tăng sức ảnh hưởng đối với công chúng, từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, từng bước khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Đây cũng là yếu tố quan trọng mà các doanh nghiệp cần phải xem xét trong chiến lược phát triển bền vững của mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Ban Chấp hành Trung ương (2018), Nghị quyết số 36-NQ/TW, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, ngày 22/10/2018, Hà Nội.

2. Phan Hiến, Như Đồng, Xuân Hướng (2022), Để tour lặn ngắm san hô trở thành sản phẩm độc đáo (Bài cuối): Cần định hướng lâu dài, http://vanhoaonline.com.vn/du-lich/artmid/416/articleid/55051/de-tour-lan-ngam-san-ho-tro-thanh-san-pham-doc-dao-bai-cuoi160can-dinh-huong-lau-dai, truy cập ngày 4/8/2022.

3. Nguyễn Thị Thanh Nga (2021), Nghiên cứu trách nhiệm xã hội của một số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Huế, Trường Du lịch, Đại học Huế.

4. Phạm Thị Minh Nguyệt (2020), Nghiên cứu trách nhiệm xã hội tại khách sạn Sheraton Nha Trang và khách sạn Mường Thanh Luxury Nha Trang, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.

5. Nguyễn Thúy Vy (2019), Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong du lịch và tác động của nó đến thái độ của du khách, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Hiến.

Tiếng Anh

1. Howard R. Bowen, (1953), Social Responsibilities of the Businessman, New York: Harper.

2. Chow, W.S. and Chen, Y. (2012), Corporate sustainable development: Testing a new scale based on the mainland Chinese context, Journal of Business Ethics, 105(4), p.519-533.

3. Drexhage, J and Murphy, D (2010), Sustainable development: From Brundtland to Rio 2012, Background paper prepared for consideration by the High Level Panel on Global Sustainability at its first meeting 19 September 2010.